TIN TỨC DỊCH THUẬT

VAI TRÒ DỊCH THUẬT
Dịch thuật đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống và đối với mọi ngành nghề trong cuộc sống. Vậy tầm quan trọng của nó đến mức nào, hãy cùng tìm hiểu:
Ngành dịch thuật nói chung và dịch vụ dịch thuật công chứng nói riêng đang ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế xã hội hiện nay ở nước ta. Hầu hết các lĩnh vực như xây dựng, y tế, tài chính, du lịch...đều sử dụng những tài liệu chuyên ngành, cả tiếng Việt cũng như ngoại ngữ. Với xu hướng hội nhập và nâng tầm quốc tế để phục vụ cho việc kinh doanh và trao đổi văn hóa thì dịch vụ dịch thuật chính là lựa chọn thiết yếu.
Với quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế của Việt Nam, không tránh khỏi việc gặp phải khó khăn về ngôn ngữ khi giao tiếp với bạn bè quốc tế. Những hợp đồng kinh doanh nếu không được cả hai bên hiểu hết thấu đáo dễ gây ra những hiểu lầm và thiệt hại đáng tiếc cho việc kinh doanh, hợp tác. Điều đó đòi hỏi họ phải tìm tới một thứ chung có thể kết nối họ với nhau ,một dịch vụ mang lại lợi ích cho tất cả các bên ( từ doanh nghiệp trong nước cho tới các đối tác nước ngoài ) đó chính là dịch vụ dịch thuậtchuyên nghiệp.
Với các doanh nghiệp lớn, những tổ chức uy tín mang tầm vóc quốc tế thì sự chính xác trong ngôn ngữ hợp đồng hay giao thương là yếu tố tối quan trọng cho sự thành công. Hầu hết đa số những doanh nghiệp, tổ chức này đều có sự hợp tác với một dịch vụ dịch thuật chuyên nghiệp để hỗ trợ những lúc cần thiết. Vừa có tính đồng nhất lại vừa nâng tầm thương hiệu của mình trong mắt các đối tác.
Ngành sử dụng dịch vụ dịch thuật nhiều nhất và tiên phong phải kể đến là Giáo dục. Những tác phẩm văn chương, triết học, những tài liệu hỗ trợ cho việc trồng người, đa số xuất phát từ những ngôn ngữ khác nhau ngoài tiếng Việt. Những tác phẩm kinh điển của nhân loại, những nền văn minh lâu đời cùng với đó là nguồn kiến thức vô tận. Tất cả đều cần được dịch sang tiếng Việt một cách chính xác và thoát nghĩa. Để làm được điều này thì cần một đội ngũ chuyên nghiệp về dịch thuật. Vì mỗi tác phẩm đều mang trong mình những ngữ cảnh và văn hóa khác nhau, đòi hỏi phải có những con người có trình độ chuyên môn cao và am hiểu một cách tường tận ngôn ngữ đó.
Với các ngành nghề khác, từ lĩnh vực kinh doanh cho tới lĩnh vực giải trí, văn hóa nghệ thuật. Những khó khăn trở ngại về ngôn ngữ luôn là rào cản cho sự giao lưu, gắn kết các mối quan hệ giữa các quốc gia trên thế giới với Việt Nam và ngược lại. Trọng trách "ngoại giao" luôn được kỳ vọng cho ngành dịch thuật với mong muốn mang đến lợi ích cho các quốc gia. Nói như vậy để có thể thấy được tầm quan trọng và vai trò không thể thiếu của dịch vụ dịch thuật đối với đời sống xã hội cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế trong thời buổi hội nhập hiện nay.

DỊCH THUẬT CHUYÊN NGÀNH
Dịch thuật ngày nay không còn là một lĩnh vực khó đối với tầng lớp trí thức, thế hệ trẻ tuổi tại Việt Nam, có rất nhiều công cụ, website dịch thuật, thiết bị dịch, phần mềm hỗ trợ việc dịch thuật... giúp bạn dễ dàng có thể tra từ và nắm được nghĩa cơ bản của các cụm từ thậm chí cả một đoạn văn ngắn. Nhưng từ xưa tới nay, một chân lý không bao giờ thay đổi đó là máy móc được tạo ra chỉ để hỗ trợ cho con người chứ không thể thay thế được bộ não con người. Việc dịch thuật chuyên ngành cũng vậy, mỗi chuyên ngành đều có các thuật ngữ khác nhau, bạn không những phải sử dụng một trình độ ngữ pháp cao cấp mà còn phải dùng đúng thuật ngữ chuyên ngành thì bản dịch của bạn mới được coi là một bản dịch chuyên nghiệp.

Dịch thuật các chuyên ngành chuyên sâu tại Việt Nam như: Dịch thuật công nghệ sinh học, Dịch thuật kinh tế tài chính, Dịch thuật xây dựng, Dịch thuật y tế, Dịch thuật chuyên ngành luật công pháp tư pháp quốc tế, Dịch thuật bảo hiểm, Dịch sách, Dịch thuật công nghệ sinh học, vi sinh học, Dịch thuật lĩnh vực nông lâm thủy hải sản hàng đầu tại Việt Nam,...

Lịch sử nền dịch thuật ở Việt Nam
Khi viết về lịch sử dịch thuật của Việt Nam, thật là một thiếu sót nếu như không lược qua lịch sử chữ viết. Bởi lẽ dịch thuật xuất phát từ nhu cầu truyền bá tư tưởng văn hoá vào tầng lớp nhân dân đại chúng. Xét tổng thể, hệ thống chữ viết của Việt Nam trải qua ba giai đoạn: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ.
Chữ Hán vào Việt Nam theo con đường giao lưu văn hóa bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Chữ Hán cổ xuất hiện ở Việt Nam khá sớm và thực sự trở thành phương tiện ghi chép và truyền thông trong người Việt kể từ những thế kỷ đầu Công nguyên trở đi. Đến thế ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng ngày càng rộng rãi ở Việt Nam. Thời kỳ này tiếng Hán được sử dụng như một phương tiện giao tiếp, giao lưu kinh tế thương mại với Trung Quốc. Chữ Hán có ảnh hưởng to lớn đối với nền văn hóa của nước Việt Nam xưa. Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng để phát triển văn hóa dân tộc.
Dù cho chữ Hán có mạnh mẽ đến đâu cũng không thể đáp ứng được nhu cầu diễn đạt bằng lời của người Việt. Trong trường hợp đó, chữ Nôm ra đời. Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).
Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Lịch sử dịch thuật đến nay còn ghi nhớ công lao của Hàn Thuyên (thế kỷ XIII), người đầu tiên dùng chữ Nôm để sáng tác và là người đầu tiên dùng chữ Nôm chép gia phả họ Nguyễn và quốc sử. Đặc biệt ghi nhớ công lao của Hồ Quý Ly (1336-1407) người dùng chữ Nôm để dịch Kinh Thi và Thiên vô dật trong Kinh thư Trung Quốc cho người Việt đọc, cùng với việc phổ biến chữ Nôm như quốc tự. Rồi các nhà nho văn nhân ở các thế kỷ sau dịch sách từ chữ Hán sang chữ Nôm như Đoàn Thị Điểm, Phan Huy Ích, Phan Huy Vịnh.
Nhưng không dừng lại ở đó, nền chữ viết Việt Nam còn tiến xa thêm một bước nữa đển hoàn chỉnh vai trò của mình trong việc truyền tải, diễn đạt ý tưởng và suy nghĩ một cách dễ hiểu nhất. Trên cơ sở truyền bá đạo Thiên Chúa vào Việt Nam gặp khó khăn về mặt ngôn ngữ, giám mục Alexandre De Rhodes nghĩ ra dùng chữ cái la tinh để phiên âm tiếng Việt. Tuy nhiên, việc chế tác chữ Quốc Ngữ không phải là công việc của riêng giám mục Alexandre De Rhodes. Đó là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng Tên người châu Âu, trong đó nổi bật lên vai trò của Francesco de Pina, Gaspar d'Amaral, Antonio Barbosa và Alexandre De Rhodes. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống chữ Việt mà chúng ta đang dùng hiện nay.
Việc tiếp nhận văn học ở đây được diễn ra một cách tự nhiên nhất, và phản ảnh được một thú chơi tinh thần tao nhã của văn nhân xưa, trong việc di dưỡng tính tình, thông qua việc chuyển ngữ những tác phẩm văn học của Trung Hoa sang ngôn ngữ Tiếng Việt.
Trong quá khứ, Việt Nam là một nước sử dụng chữ Hán. Chế độ khoa cử chữ Hán xưa đã đào tạo một đội ngũ các nhà trí thức (kể cả không đỗ đạt; ra làm quan hay chỉ dạy học) thạo về văn chương, trong đó có thơ phú. Văn xuôi và thơ chữ Hán đều không cần phải dịch, bởi công chúng là trí thức đều đọc được mà không có rào cản về ngôn ngữ. Việc dịch văn học không phải là xuất phát từ nhu cầu giới thiệu, truyền bá tác phẩm nước ngoài vào Việt Nam. Dịch thơ Đường cũng vậy. Các nhà Nho dịch thơ Đường để mình hoặc bạn bè thưởng thức trong lúc "trà dư tửu hậu". Do vậy tiêu chuẩn "tín - đạt - nhã" cũng không đặt ra như một bắt buộc.
Các hình thức dịch Nôm như diễn âm, giải âm, diễn ca, diễn nghĩa các tác phẩm chữ Hán cũng chỉ nhằm chủ yếu cho 2 đối tượng là người còn đang đi học (học các tác phẩm kinh điển qua bản diễn Nôm) và tầng lớp bình dân (diễn Nôm các tích truyện, hoặc kinh Phật, diễn ca các bài thuốc). Các hình thức này cũng không nhất thiết phải tuân thủ tiêu chuẩn "tín - đạt - nhã"; tùy theo từng loại văn bản mà việc chuyển nghĩa có sự linh hoạt không giống nhau.
Ngoài đặc điểm chung của dịch thuật, vai trò của phiên dịch trong giai đoạn này lại mang một đặc thù hoàn toàn khác biệt với dịch thuật ở các giai đoạn khác. Đó là sự chuyển đổi dần vai trò chủ đạo của văn tự từ hệ chữ viết khối vuông (Hán - Nôm) sang hệ chữ Quốc Ngữ. Bên cạnh một số thuận lợi, sự chuyển đổi này đã dẫn đến nguy cơ gây ra sự đứt gãy với văn hoá truyền thống. Gắn với quá trình vận động nội tại của nền văn hoá dân tộc trước yêu cầu hiện đại hóa, chữ Quốc ngữ, do vậy, không chỉ là phương tiện để chuyển tải những yếu tố văn hoá ngoại sinh - yêu cầu tất yếu đối với quá trình hiện đại hóa văn hoá - mà còn, nếu không nói là trước hết, phải là nhịp cầu nối với văn hoá truyền thống, góp phần khơi dậy những yếu tố nội sinh làm nền tảng cho quá trình hiện đại hóa. Cả hai yêu cầu này đều phải qua con đường phiên dịch và tất nhiên đều phải xuất phát trước hết từ nỗ lực và ý thức văn hoá của trí thức dân tộc, qua đó chữ Quốc ngữ mới thành công cụ hữu hiệu, thành "lợi khí" trên đường hiện đại hóa văn hoá dân tộc.
Nếu như cuối thế kỷ XIX, công việc dịch thuật hoặc cải biên kia còn gắn chủ yếu với mục đích phổ biến chữ quốc ngữ thì qua đầu thế kỷ XX đã gắn với mục đích đáp ứng nhu cầu đọc và thị hiếu thẩm mỹ của công chúng. Chính nhu cầu, thị hiếu này là động lực của việc dịch thuật, cải biên văn học Trung Quốc đầu thế kỷ XX và khởi phát nên phong trào dịch thuật truyện Tàu chỉ trong vòng bốn, năm năm (1906 - 1910) đã có ngót trên 30 bộ được dịch, trong đó có những bộ có giá trị cổ điển nhưTam quốc chí (1901, 1907), Đông Chu liệt quốc (1906), Thủy hử (1907)...
Đã có nhiều ý kiến về dịch thuật truyện Tàu trong buổi đầu nền văn chương quốc ngữ. Theo chúng tôi, cần chú ý nhiều hơn đến thực tiễn văn học bấy giờ, nhất là đến nhu cầu thưởng thức của công chúng. Không phải ngẫu nhiên Canavaggio, người dịch Tam quốc chí trong Nam từ 1901 và Phan Kế Bính, người dịch Tam quốc chí ngoài Bắc từ 1907, lại gặp nhau ở điểm đều xuất phát từ nhu cầu đọc của công chúng (tác phẩm văn học truyền thống không nhiều trong khi lượng người đọc ngày càng cao) và đều chọn dịch Tam quốc chí diễn nghĩa. Ý kiến của Phan Kế Bính có nhắc đến vai trò của chữ quốc ngữ rất đáng lưu ý: "Đáng tiếc là chữ dễ đọc, người người đều hiểu, nhưng biết tìm sách đâu mà đọc? Đọc hết Cung oán ngâm khúc lại đọc Truyện Kiều, tất cả cộng lại cũng không quá mấy chục loại, người đọc nhanh chỉ ba ngày là hết sạch... Vì những nguyên nhân trên chúng tôi mới quyết định xuất bản những tập sách này" (tựa Tam quốc chí diễn nghĩa, 1907).
Bên cạnh tính thương mại, mà thực ra cũng là một biểu hiện của sinh hoạt văn học hiện đại, dịch thuật, cải biên văn học Trung Quốc nói chung, cao trào dịch thuật truyện Tàu hồi đầu thế kỷ XX nói riêng, còn phản ánh một thực tế là trong buổi đầu của nền văn học mới, dịch thuật thường đi trước sáng tác và dịch thuật thường xuất phát từ những vùng văn học gần gũi với mình, cả với dịch giả lẫn công chúng. Do mối quan hệ đặc biệt của quan hệ văn học Việt - Trung có từ lâu đời, nhiều giá trị văn học Trung Quốc đến với tiến trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam như bước ra từ truyền thống. Dịch thuật văn học cổ điển Trung Quốc có ý nghĩa rất lớn đối với nền văn học dịch và cả đối với khoa nghiên cứu văn học trong buổi chập chững của mình mà Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, đăng trong chuyên mục Đông Dương tạp chí (từ số 167 - 180), sau in thành sách, đáng kể là tác phẩm tiêu biểu. Riêng về thơ, qua khảo sát, chúng tôi nhận ra điều khá thú vị : văn học quốc ngữ, trong đó chủ yếu là mảng dịch thuật, phát triển khá sớm ở trong Nam nhưng suốt mấy chục năm đầu thế kỷ XX, thơ cổ Trung Quốc hầu như không được để tâm đến, kể cả thơ Đường. Bài thơ Đường được dịch ra chữ Quốc ngữ sớm nhất có lẽ là bài Văn lân gia lý tranh của Từ An Trinh, Trương Minh Ký dịch thành hai bản, một theo vần bằng một theo vần trắc, nhưng là để minh họa cho phép làm thơ trong quyển Thi pháp nhập môn (1898).
Văn học quốc ngữ, trong đó chủ yếu là mảng dịch thuật, phát triển khá sớm ở trong Nam nhưng suốt mấy chục năm đầu thế kỷ XX, thơ cổ Trung Quốc hầu như không được để tâm đến, kể cả thơ Đường. Điều đáng chú ý là Việt Nam ta có truyền thống dịch thơ Đường từ khá sớm và về phương diện này thực ra cũng không có khó khăn lắm đối với văn học dịch quốc ngữ, hoặc phiên âm hoặc dịch mới ra quốc văn nhiều tác phẩm bằng chữ Nôm và dịch các tác phẩm văn học, triết học Trung Quốc cổ điển - đó là học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Cũng thật là một thiếu sót nếu như không đề cập đến nhà thơ trào phúng nổi tiếng Tú Xương cũng là một dịch giả có số lượng bài dịch là 81 bài, trong đó có 71 bài được dịch ra thể thơ thất ngôn bát cú, 10 bài dịch ra thể ngũ ngôn cổ phong, với một phong cách rất riêng của ông. Bút pháp trào lộng, hóm hỉnh của Tú Xương trong phong cách thơ ông xuất hiện cả trong những bài thơ dịch, tạo nên nét riêng rất đáng chú ý. Về từ ngữ, ông đã sử dụng cả những từ vốn được ông dùng trong thơ sáng tác để dùng trong bản dịch, khiến cho tác phẩm dịch của ông như một sáng tạo mới. Đó là nét đặc sắc của Tú Xương trong thơ dịch. Điều này sẽ góp phần khẳng định chân dung một dịch giả trong văn học Việt Nam. Và vị trí của ông, với tư cách là một dịch giả cần được khẳng định.
Với việc dịch thơ Đường, Tú Xương đã đóng góp vào lịch sử văn học Việt Nam như một dịch giả có phong cách độc đáo, đưa được những từ ngữ đời thường đầy hóm hỉnh vào bản dịch một cách nhuần nhuyễn, tạo nên một bản dịch hoàn toàn có thể có một đời sống độc lập bên cạnh bản dịch.
Nền dịch thuật Việt Nam thực sự bắt đầu phát triển từ sau năm 1945. Ngay sau Cách mạng tháng 8, hàng loạt bản dịch các tác phẩm tiên tiến của văn học thế giới được in thành sách. Bắt đầu các bản dịch trên báo chí những bài dịch lý thuyết văn chương, những tài liệu về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Trung Quốc, khối Đông Âu... rồi những bản dịch nổi tiếng nước ngoài với các tên tuổi hàng đầu lúc ấy như: Ngô Tất Tố, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Nguyễn Huy Tưởng, Phan Khôi, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Xuân Sanh...
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc, đất nước hòa bình thống nhất. Trong Nam ngoài Bắc, các nhà xuất bản đua nhau ra sách dịch. Đội ngũ những người dịch ngày thêm đông đảo. Những người dịch văn học, các tác phẩm từ tiếng Nga, các nước Đông Âu, Văn học CuBa, Mỹ Latinh... Và nhiều bài báo viết, cả báo hình cũng đã giới thiệu những dịch giả tài ba như Trương Chính, Phan Ngọc, Dương Tường, Nguyễn Trung Đức, Lê Khánh Trường... bước đầu xác nhận vai trò, hình ảnh của dịch giả trước công chúng - mà lâu nay chí làm đối với các nhà văn, thơ.
Sự phát triển của ngành dịch thuật trong ngày nay

Là lĩnh vực quan trọng trong quá trình hội nhập

Ngày nay, dịch thuật là một ngành không thể thiếu trong nền kinh tế hội nhập của các quốc gia. Với lực lượng đội ngũ người làm nghề dịch thuật phát triển mạnh mẽ thì dịch vụ dịch thuật tại Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển.
Các công ty dịch thuật xuất hiện ngày càng nhiều, theo đó mà chất lượng dịch vụ không ngừng được nâng cao nhằm tìm kiếm được khối lượng khách hàng nhiều hơn. Với các dịch vụ như dịch thuật giá rẻ, dịch thuật trọn gói, dịch thuật tại chỗ,.... sẽ tiết kiệm cho khách hàng chi phí và cả về thời gian lẫn công sức khi cần đến dịch vụ dịch thuật.
Trong dịch thuật, vấn đề quan được quan tâm nhất đấy chính là sự chính xác của bản dịch so với bản gốc. Ngoài ra, cần phải dịch thế nào cho hay mà không làm mất đi ý nghĩa của nội dung gốc. Do đó, người dịch phải luôn tự giác nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, không ngừng nâng cao vốn ngoại ngữ, kinh nghiệm dịch thuật để chất lượng bản dịch ngày càng tốt hơn.
Sự phát triển của các công ty dịch thuật

Cùng với sự phát triển không ngừng của các công ty dịch thuật, các văn phòng dịch thuật tư nhân ra đời cũng ngày càng nhiều hơn. Chất lượng dịch thuật vì vậy cũng ngày càng được nâng cao, bởi xuất hiện sự cạnh tranh giữa các đơn vị dịch thuật với nhau. Vì vậy, muốn mở rộng quy mô phát triển của công ty, thì đội ngũ nhân viên phải giỏi và tiềm lực của công ty lớn mạnh.
VIỆT NAM LIỆU CÓ CHỖ ĐỨNG TRONG NGÀNH DỊCH THUẬT ?
Tuy số tiền phải chi trả cho một lần phiên dịch ở các công ty nước ngoài rất lớn so với các công ty trong nước nhưng khách hàng vẫn tìm đến những công ty nước ngoài nhiều hon. Vì sao vậy? Có hai lý do rất lớn khiến cho khách hàng ít tin tưởng vào thị trường dịch thuật trong nước. Đầu tiên là việc các công ty ngoài nước rất tuân thủ các chuẩn dịch quốc tế. Lý do thứ hai là do việc sử dụng thuật ngữ không nhất quán, thiếu sự đầu tư về chuyên môn, việc thêm bớt nghĩa của các câu so với bản gốc là khá phổ biến. Và hạn chế trong việc sử dụng các phần mêm hỗ trợ dịch thuật cũng khiến khách hàng ít tin tưởng vào các công ty trong nước.

Theo thống kê thì có gần 85% các dịch thuật viên, chuyên gia dịch thuật trên thế giới đã và đang sử dụng các phần mềm hỗ trợ cho việc dịch thuật.Nếu muốn hình thành nên công nghiệp dịch thuật ở Việt Nam thì đầu tiên chúng ta nên sử dụng các công cụ hỗ trợ tốt nhất cho việc dịch thuật như máy dịch, từ điển điện tử...
Tuy còn nhiều điểm yếu cần khác phục để đáp ứng thị trường ngành dịch thuật. Nhưng với sự ra đời của các phần mềm thuần Việt thì thị trường dịch thuật Việt Nam cũng có thể hướng đến một tương lai tốt đẹp không xa.
Để có thể thực hiện được điều đó thì chúng ta cần xây dựng một thị trường kinh doanh dịch thuật chuyên nghiệp, nên đầu tư phát triển các công ty chuyền về dịch thuật mang tầm cỡ quốc gia. Bên cạnh đó cũng không thể thiếu việc chuẩn hóa dịch thuật, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cũng như việc sử dụng công cụ hỗ trợ nhiều hơn nữa. Nếu đi đúng hướng như vậy thì thì trường dịch thuật ở Việt Nam mới có thế phát triển và cạnh tranh được.
